Thuật phong thủy căn bản từ Dịch Lý, cho rằng Âm Dương vốn để biễu hiện sáng và tối. Phía mặt trời là ánh Sáng (dương). Quay lưng lại phía mặt trời là bóng tối (âm). Mặt trời khởi từ Tý, lớn ở Mão và Vượng ở Ngọ. Tý làø giữa đêm, Ngọ là giữa trưa. Từ giờ ngọ, bóng tối bắt đầu xuất hiện, lớn ở Dậu và vượng ở Tý. Bởi thế, âm cực thì sinh dương, dương cực thì sinh âm hay dương sinh từ Tý, Âm sinh từ Ngọ là vậy.
Hình 1: Thái Cực
 Biểu hiện Thái Cực
Hình 2: Lưỡng Nghi
 Biểu hiện Âm Dương
Hình 3: Tứ Tượng
 Biểu hiện trong âm có dương, trong dương có âm.
Hay Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Theo chiều thuận kim đồng hồ, Dương sinh ở bên trái, Âm sinh từ bên phải.
Biểu hiện trong âm có dương, trong dương có âm.
Hay Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Theo chiều thuận kim đồng hồ, Dương sinh ở bên trái, Âm sinh từ bên phải.
Nét liền (_____) biểu thị cho Dương.
Nét đứt (__ __ ) biểu thị cho Âm. Dương là đàn ông bên tay trái. Âm là đàn bà bên tay phải.
Như vậy: Thanh Long thuộc dương. Bạch Hổ thuộc âm.
Âm Dương sáng tối sinh ra ngày đêm. Ngày đến đêm, đêm đến ngày sinh ra bốn mùa xuân hạ thu đông không bao giờ dứt. Âm Dương đầy khắp trong vũ trụ, luôn luôn tác động, ảnh hưởng hết mọi loài.
Hình và Khí:
Hoàng Công Tổ Sư dạy phép dương trạch trong Thiên tinh tâm pháp có nhắc : Một âm một dương gọi là đạo.Một động một tỉnh gọi là khí. Một đến một đi gọi là vận. như vậy người chỉ mới nhắc về khí chứ chưa nói về hình. Vì hình và khí thì hoàn toàn khác biệt. Khí âm thì tỉnh mà hình lại cương cường. Khí dương thì động mà hình lại nhu mì, không cương mãnh. Bởi thế các nhà Phong thủy đã căn cứ vào hình để luận về khí vì khí đã được thể hiện bởi hình.
Hãy nhìn vào dạng của Nước thì rõ biết. Khí âm càng nhiều thì nước càng vón cục, đặc cứng. Khí dương càng lớn thì nước lõng chảy nhu mì, uyển chuyển. Cho nên, càng về phía Bắc, âm khí càng nhiều núi càng cao càng cương mảnh. Càng dần về phía Nam, khí dương lấn át khí âm, cho nên đất đai bằng phẳng ít núi ít đồi. Trời dương thì có mây có gió, đất âm thì có núi có sông. Con người ỏ giữa trời và dất nên cũng phải có cửa có nhà. Dù to nhỏ khác nhau, hình dạng có khác nhau và ngay cả những người ngụ cùng chung một nhà cũng có thiện ác khác nhau. Con người phải biết những quy luật biến hóa của âm dương để thuận theo. Thuận thì yên, nghịch thì không yên, suy thoái.
Cao thì Khí Âm Bằng phẳng thì Khí Dương
NGŨ HÀNH:
Trong vũ trụ, không gì ngoài năm thể là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là ngũ hành.
Kim là kim loại - màu trắng - hình tròn. Mộc là cây cối - màu xanh - hình thẳng. Thủy là nước lỏng - màu đen - hình uốn lượn. Hỏa là lửa - màu đỏ - hình nhọn. Thổ là đất đai - màu vàng - hình vuông.
Kim sinh thủy - Thủy sinh mộc - Mộc sing hỏa - Hỏa sinh thổ - Thổ sinh kim, gọi là vòng tương sinh. Kim khắc mộc - Mộc khắc thổ - Thổ khắc thủy - Thủy khắc hỏa - Hỏa khắc kim, gọi là vòng tương khắc.





Ngũ hành quý ở sự hài hòa, tương hợp, vì vậy luật THAM SINH KỴ KHẮC luôn luôn được tận dụng trong khoa Dịch Lý nói chung, Địa lý nói riêng.
Ví dụ:
Kim đang khắc Mộc, nhưng nếu có Thủy xen vào thì Kim sẽ thích đi sinh Thủy, không còn đi khắc Mộc nữa. Đồng thời khi đó Thủy đủ lực để đi sinh Mộc. Mộc không còn bị Kim khắc. Đặc biệt, trường hợp hai khí cùng một hành mà gặp nhau thì gọi là ngũ hành tương ngộ. Ví dụ:
Phương nam mà có hỏa hình. Hay hỏa gặp hỏa lắm điều kiện tụng. Phương bắc mà có thủy hình. Hay thủy gặp thủy thì tính sẽ dâm. Phương mộc mà có mộc hình. Hay mộc gặp mộc thì phú quý,yên lành. Phương kim mà gặp kim hình. Hay kim gặp kim thì giàu sang. Phương thổ mà gặp thổ hình. Hay thổ gặp thổ thì tính sẽ ngu.

Ngũ hành tương ngộ thường gặp trong đia lý dương trạch, cho nên cần phải lưu ý rất nhiều. Vòng tương sinh.

Vòng tương khắc.

Thuật phong thủy cho rằng Ngũ hành là Cương Lĩnh của âm dương, là quyền năng của tạo hóa. Tất cả đều phải dựa vào ngũ hành mới có thể biện phương lập hướng.
Như vậy, ngay sau khi chọn được địa điểm xây dựng nhà, điều trước tiên phải nhận định cho đúng khu vực thuộc hành gì bằng cách xem xét núi non, cảnh vật chung quanh ïđể sao cho được ngũ hành tương sinh. Ví dụ: Núi hành kim, kim sẽ đi sinh thủy. Kiểu nhà hành thủy sẽ được đại lợi.
Ví dụ:
Núi hành mộc, mộc sẽ sinh hỏa. Kiểu nhà hành hỏa sẽ đuoc đại lợi.
Theo quan niệm của đông phương, Người thì có tóc, nhà thì có nóc. Căn cứ vào hình dạng của nóc hay mái nhà dể định ngũ hành.
Ví dụ:
Nhà hành thủy: Mái nhà hình uốn lượn lên xuống

Nhà hành hỏa: Mái nhà hình nhọn


Nhà hành kim: Mái nhà hình tròn

Nhà hành thổ: Mái nhà hình vuông

Nhà hành mộc: Mái nhà hình chữ nhật

Cần lưu ý: Lớn đi sinh nhỏ thì thuận. Nhỏ đi sinh lớn là bị tiết khí, không thuận.
BÁT QUÁI và PHƯƠNG HƯỚNG:
La Bàn: Muốn biết chính xác phương hướng, Ngoài cách nhìn tính phương hướng của SAO trên trời, cách này đòi hỏi nhiều kinh nghiệm thực tế. Cách đơn giản và thực dụng nhất hiện nay là cách sử dụng la bàn.
Trên mặt của la bàn, mủi tên luôn luôn chỉ về hướng Bắc. Cho dù ở vị trí nào, hướng bắc phải được xác định trước rồi lần lượt theo chiều kim đồng hồ để xác định hướng Đông, tiếp theo là hai hướng Nam và Tây.

Giữa Bắc và Đông là hướng Đông Bắc. Giữa Đông và Nam là hướng Đông Nam. Giữa Nam và Tây là hướng Tây Nam. Giữa Tây và Bắc là hướng Tây Bắc.
Tám hướng theo La bàn ứng với 8 quẻ gọi là Bát quái _____ _____ _____ Quẻ Càn : 3 vạch liền - Hướng Tây Bắc ( Tuất-hợi)
__ __ _____ __ __ Quẻ Khảm : vạch giữa liền - Hướng chính Bắc ( Tý )
_____ __ __ __ __ Quẻ Cấn : vạch trên liền - Hướng Đông Bắc ( Sửu-Dần )
__ __ __ __ _____ Quẻ Chấn : vạch dưới liền - Hướng chính đông ( Mão )
_____ _____ __ __ Quẻ Tốn : vạch đứt ở dưới - Hướng Đông Nam ( Thìn-Tỵ )
_____ __ __ _____ Quẻ Ly : vạch giữa đứt - Hướng chính Nam ( Ngọ )
__ __ __ __ __ __ Quẻ Khôn : 3 vạch đứt - Hướng Tây Nam ( Mùi-Thân )
__ __ _____ _____ Quẻ Đoài : vạch trên đứt - Hướng chính Tây ( Dậu )
Cần phân biệt rỏ 2 loại bát quái: Bát quái Tiên Thiên và Bát quái Hậu Thiên.
Bát quái Tiên thiên hay gọi là Phục Hy Tiên thiên Bát quái đồ thứ tự theo tám quẻ:
1 Càn - 2 Đoài - 3 Ly - 4 Chấn - 5 Tốn - 6 Khảm - 7 Cấn - 8 Khôn

Bát quái Hậu thiên hay goị là Văn Vương Hậu Thiên Bát quái đồ. Thứ tự theo tám quẻ:
1 Càn - 2 Khảm - 3 Cấn - 4 Chấn - 5 Tốn - 6 Ly - 7 Khôn - 8 Đoài

Trong khoa địa lý phong thủy, Bát quái hậu thiên được sử dụng phù hợp với vạn vật đã sinh. Phương hướng thực tế, la bàn hoàn toàn phù hợp với cách bố trí các quẻ trong hậu thiên bát quái.
Một số ý nghĩa của các quẻ liên quan về phương hướng và người:
_____ _____ _____ Quẻ Càn : ba vạch toàn dương, hành KIM, tượng trưng cho Cha, phương tây bắc tuất hợi.
__ __ _____ __ __ Quẻ Khảm : vạch giữa liền, hành THỦY tượng trưng cho con trai giữa, phương chính bắc, Tý.
_____ __ __ __ __ Quẻ Cấn : vạch trên liền, hành THỔ tượng trưng cho con trai út, phương đông bắc, sửu dần.
__ __ __ __ _____ Quẻ Chấn : vạch dưới liền, hành MỘC tượng trưng cho con trai trưởng, phương chính đông, mão.
_____ _____ __ __ Quẻ Tốn : vạch dưới đứt, hành MỘC tượng trưng cho con gái trưởng, phương đông nam, thìn tỵ.
_____ __ __ _____ Quẻ Ly : vạch giữa đứt, hành HỎA tượng trưng cho con gái giữa, phương chính nam, ngọ.
__ __ __ __ __ __ Quẻ Khôn : ba vạch đều đứt, hành THỔ tượng trưng cho Mẹ, phương tây nam, mùi thân.
__ __ _____ _____ Quẻ Đoài : vạch trên liền, hành KIM tượng trưng cho con gái út, phương chính tây, dậu.
Lưu ý:
Phần căn bản về bát quái, cần học đi học lại nhiều lần mới nhớ được. Phần nầy không thuộc được thì sẽ gặp nhiều khó khăn ở các phần sau.
Một số kinh nghiệm tồn động từ đời này sang đời khác, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống hàng ngày:
1) Đất Cao / Thấp: Nhà ở trong một khu vực phía cao, phía thấp thì cần phân biệt các trường hợp:
. Phía đông cao, phía tây thấp là vị trí tốt lành, không cần phân biệt trước hay sau nhà. Gọi là có nhiều sinh khí.
. Phía tây cao, phía đông thấp là vị trí xấu, không tốt cho việc xây dựng nhà ở, kinh doanh. Gọi là đất không có sinh khí.
. Phía bắc cao, phía nam thấp là vị trí tốt lành cho việc xây nhà ở. Ngược lại,ø phía bắc thấp , phía nam cao là vị trí không tốt lành cho việc xây dựng nhà ở, kinh doanh.
Những hướng còn lại đều cần phần đất phía sau nhà phải cao hơn phía trước mới gọi là tốt lành.
2) Rộng / Hẹp:
Phía đằng sau nhà, đất đai rộng hơn phía trước là tốt lành. Phía sau đất đai hẹp hơn phía trước là tiền kiết hậu hung, xấu.
3) Lồi / Khuyết:
Hướng Bắc hay là hướng tý cần cao và hướng nam hay hướng ngọ cần thấp, nhưng cả hai hướng đều không được khuyết. Khuyết thì nhà cửa sẽ đơn cô.
Các hướng đông, tây dù cho bị khuyết cũng không sao. Chỉ cần phía đông cao hơn phía tây là đủ.
Tuy nhiên không gì tốt hơn một vị trí đất đai bằng phẳng, phía đằng sau có núi, phía đằng trước có sông. Sinh khí sẽ đầy tràn.
4) Trái / Phải:
Khi xây dựng nhà cửa, sau khi xem xét kỷ vị trí, đất đai cao thấp không đều thì nên chọn phía bên trái cần cao hơn phía bên phải. Vì bên trái là tay long, hành mộc thuộc Dương. Bên tay phải là tay hổ, hành kim thuộc Âm. Dương càng nhiều thì sinh khí càng lớn, phước lộc càng dồi dào. Tuy nhiên, trong phong thủy địa lý rất cẩn trọng sự hài hòa. Dương hay âm thái quá đều không tốt. Trong dương cần có âm, trong âm cần có dương là vậy

Đường Cái:
Những ngôi nhà sát cạnh sông hồ sẽ nhận trực tiếp KHÍ THỦY của sông hồ, nhưng những con đường dẫn đến nhà cũng ảnh hưởng đến ngôi nhà không ít. Kinh nghiệm cho thấy những ngôi nhà bị đường đâm thẳng vào thường bị nhiều bất ổn, không yên. Tuy nhiên, không phải người nào cũng bị ảnh hưởng mà tùy phương hướng nào cuả ngôi nhà bị đường đâm vào thì phương đó mới bị tổn thương. Đường đâm vào phương Càn Tây Bắc - Tuất Hợi thì người cha trong gia đình sẽ bị tổn hại.
Đường đâm vào phương Khảm Bắc - Tý, thì tổn hại cho người con trai giữa.
Đường đâm vào phương Cấn Đông Bắc - Sửu Dần, thì tổn hại cho người con trai út.
Đường đâm vào phương Chấn Chính Đông - Mão thì tổn hại cho người con trai trưởng.
Đường đâm vào phương Tốn Đông Nam- Thìn Tỵ thì tổn hại cho người con gái đầu.
Đường đâm vào phương Ly Chính Nam - Ngọ thì tổn hại cho người con gái giữa.
Đường đâm vào phương Khôn Tây Nam - Mùi Thân thì sẽ tổn hại cho người Mẹ.
Đường đâm vào phương Đoài Chính Tây - Dậu thì sẽ tổn hại cho người con gái út. Đường cần ôm vòng lấy ngôi nhà nhưng không được ôm quá siết, quá chặt. Phía Nam của ngôi nhà mà có đường là ngôi nhà đại lợi. Phía đông, bắc có đường thì không được tốt. Riêng tại hướng đông nam của nhà ở mà có ngã ba đường cái thì được sinh khí dồi dào, làm ăn thịnh vượng. Phía đông có sông có biển thì lại tốt hơn nữa.
D: Phần tổng hợp:
Đi vào phần tổng hợp được, nghiã là quý vị đã thông suốt những phần đầu. Dù sao quý vị cũng cần lưu ý lại một vài điểm quan trọng nêu ở các phần trước như ngũ hành sinh khắc, 8 cung của Bát quái đồ ứng với các phương hướng thực tế.. . . . .
1: Ví dụ Nam sinh năm bính ngọ. Nhà dài dạng hành mộc hướng đông nam, từ trong nhà nhìn ra, cửa mỡ ở bên trái. Núi ở xa có dạng hành kim.Thử phân tích: Nam bính ngọ mạng thủy, phi cung đoài. Mạng thủy ở trong một căn nhà hành mộc.Mặc dù thủy sinh mộc thuộc ngũ hành tương sinh, nhưng nhà cần sinh cho người, người mà sinh cho nhà là người bị tiết khí, hao lực.
Núi hành kim, nhà hành mộc. Kim đi khắc mộc. Nhà bị khắc thì nhà không thể tốt được. Biết rằng kim tham đi sinh thủy mà thủy thì đi sinh mộc, vì thế khu vườn chung quanh nhà được đề nghị cải tạo lại theo dạng hành thủy để kim đi sinh thủy, thủy đi sinh mộc thì nhà mới đặng tốt.
Người mạng thủy đang bị sinh xuất, hao lực vì bị tiết khí. Cho nên thủy cầnphải được dư thừa. Hình dạng của khu vườn trở nên quan trọng, cần có dạng hành thủy cũng có nghĩa tăng lực thủy vì thủy đang bị tiết khí.
2: Nhà hành mộc hướng đông nam tức là cung tốn ( _____ _____ __ __ ). Cữa mở bên trái tức là hướng chính đông cung chấn ( __ __ __ __ _____ ). Tốn và chấn đều thuộc đông cục, đây là một căn nhà tốt.
3: Phi cung Nam Bính Ngọ là Đoài thuộc Tây Tứ Cục. Nhà thì tốt nhưng lại thuộc Đông Tứ Cục. Người Đông mệnh vào ở nhà này thì được hưởng 100% tốt. Người Tây mệnh thì không thể hưởng được trăm phần vì đông tây dị biệt, chỉ hưởng được tối đa 75% mà thôi.
Thử vẽ lại tất cả các hướng nhà và các hướng cửa để có thể rút tỉa một vài kinh nghiệm bản thân:
( Hình vẽ được đánh số từ 1 đến 24 tượng trưng cho 24 loại nhà và cửa. Trong nhà các khu vực được đánh số từ 1 đến 8. Cung số 2 cũng chính là cung giữa nhà quyết định tốt xấu cho toàn căn nhà.)








Nếu như quý vị chỉ nhìn những hình đã vẽ sẳn thì chắc chắn quý vị không thể luận bàn sâu sắc được. Quý vị cần phải vẽ lại ra trên giấy, an lại các cung, nắm thật vững đông tây cục, đông tây mệnh để có thể đi vào nội thất một cách tường tận. Một số điểm cần quan tâm sau khi quý vị đã phân cung điểm hướng xong một căn nhà:
1: Nhà chính môn thường là nhà tốt. Khu vực đánh số 2 cũng chính là khu vực giữa nhà. Khu vực số 2 tốt tức là nhà tốt, khu vực này xấu tức là căn nhà này xấu.
2: Một căn nhà được trọn tốt không có nghĩa là tất cả các cung trong nhà đều tốt cả. Trong dịch lý cũng như khoa địa lý dương trạch đều cho rằng trong âm phải có dương, trong dương phải có âm. Dương và âm hai thể không thể tách rời được nhau, nghĩa là trong xấu cũng có tốt, trong phúc cũng coi chừng họa. Biết như thế để làm to rộng những chổ tốt, làm nhỏ hẹp lại những chổ xấu hay thường tận dụng nhũng chổ tốt để làm việc, làm phòng ngũ, đặt nhà bếp. Những chổ xấu dùng làm phòng vệ sinh, phòng để quần áo và những chổ xấu thường nên làm nhỏ hẹp lại. Hoàn toàn không thể triệt tiêu được những khu vực xấu hết được.
Người học Dịch phải hiểu điều ấy để lấy sự hài hòa làm trọng. Một căn nhà chỉ cần 3 chổ tốt: Phòng ngũ, nhà bếp và cửa cái gọi là nhà 3 tốt là nhà được gọi là trọn tốt rồi. Trong các hình vẻ ở phần tổng hợp, cửa cái tốt tức là Khu Vực thứ 2 tốt.
3: Các khu vực ở trên lầu hoặc các khu vực ở từng dưới thì các cung, các hướng cũng y rập như tầng trệt hay tầng chính. Khác ở chổ những tầng này bị thêm ảnh hưởng bởi khu vực tốt xấu của vị trí đặt cầu thang.Ví dụ cầu thang dẩn lên lầu đặt tại các cung 2, 4, 5, 6 hay ở khu vực giữa nhà là các khu vực tốt của căn nhà tại hình 1( hướng chính Bắc chính môn). Những phòng ở trên lầu ở các khu vực tốt thì càng thêm tốt. Những phòng ở khu vực xấu thì sẽ bớt xấu. Ngược lại, nếu cầu thang được đặt ở các vị trí xấu thì những khu vực tốt trên lầu sẽ bị giãm tốt rất nhiều. Những phòng ở khu vực xấu lại càng thêm xấu.
Nói một cách tổng quát là cầu thang đặt ở cung tốt thì lầu trên thêm tốt. Cầu thang đặt tại cung xấu thì nguyên lầu trên phải chịu xấu .
Nhớ rằng cửa cái là nơi ra vào, khí thường xuyên luân lưu tác động hoạ phúc của một căn nhà. Cầu thang cũng y như cửa cái, tác động họa phúc ở các khu vưc lầu trên, tầng dưới.
4: Nếu nhà được nới rộng làm to thêm, thì phải nới rộng ở những khu vực tốt. Nếu nới rộng những khu vực xấu thì cái xấu sẽ to lớn thêm ra.
5:Nguyên tắc Tốt thì vào, xấu thì ra. Vậy nếu cửa cái vào, cửa sau cho ra thì nên cho vào cái tốt và nê n cho ra cái xấu.
- Căn nhà tốt cũng có nghĩa phòng giữa nhà tốt hay cũng chính là khu vực thứ 2 trong các hình vẽ ở phần tổng hợp tốt. Ngược lại căn nhà xấu cũng có nghĩa là khu vực thứ 2 đang xấu. Thật ra chỉ cần phối 2 cung lại: cung cửa cái và cung của hướng nhà là biết ngay nhà xấu hay tốt.
- Thử nhìn lại một số hình vẽ để phân tích :
Hình 1, 2, 3 Hướng chính bắc. Chỉ cửa cái chính môn tốt mà thôi. Chính môn thì có thể làm to rộng ra các khu vực 4, 5, 6. Cửa sau hay gọi là cửa hậu chỉ nên mỡ ra ở khu vực 7. Ở thiên môn hình 2 và hình 3,các khu vực 1, 8, 7 có thể làm to rộng ra và cửa sau có thể mở ở khu vực 4, 5, 6.
Nhìn kỷ hình 2: Thiên môn tại cung Cấn. Khí vào tụ lại tại khu vực 3 không thông được đến các khu vực khác nhất là các khu 1, 8, 7 là những khu vực có cùng tây tứ cục với cung Cấn. Tại hình 3, ba khu vực tốt 1, 8, 7 lại không thông với khu vực 3. Gặp những căn nhà hướng này, quý vị cần lưu ý , việc đầu tiên là phải thông khí cho các khu vực tốt, sau đó mới có đề nghị sửa đổi các khu vực khác nếu cần.
Hình 4, 5, 6. Hướng Đông bắc. Chỉ cửa cái chính môn tốt mà thôi. Chính môn thì có thể làm to rộng ra các khu vực 6, 7, 8. Cửa sau hay gọi là cửa hậu chỉ nên mỡ ở khu vực 5. Ở thiên môn hình 5, các khu vực 3, 4, 5 hoàn toàn tốt cần làm to rộng ra và phải thông khí ngay cho khu vực 1. Cửa hậu có thể mở tại khu vực 7. Ở thiên môn hình 6( giống y như trường hợp hình 2) khí tụ tại cung Khảm không thông được với các cung cùng cục là các cung 3, 4, 5 . Việc đầu tiên là phải thông khí cho các khu vực tốt rồi mới có đề nghị sửa đổi các khu vực khác nếu cần.
Hình 7, 8, 9 hướng chính đông. Chính môn và cửa mỡ cung Tốn tốt. Hình 7 và 8, các khu vực 5, 6, 7 xấu cho nên không được nới to rộng, cần phải mở cửa sau hay cửa hậu để ra bớt cái xấu. Ở hình 9 cửa thiên môn lệch trái tại cung Cấn, xấu. Khí vào tụ tại cung số 1, không thông với các khu vực đồng cục là các cung 5, 6, 7.Nhà này cần phải được thông khí trước khi có có đề nghị sửa đổi các khu vực khác nếu cần . Ví dụ như làm to rộng ra phần sau chẳng hạn.
Đến đây chắc hẳn qúy vị có thể luận tiếp được các căn nhà tiếp theo.
Tốt thì cho vào, xấu thì cho ra. Chắc hẳn quý vị cũng đã từng được nghe người ta nói rằng cửa trước và cửa sau hay cửa hậu mà thông nhau thì căn nhà không được tốt. Quý vị ít ra cũng đã có một số kiến thức hết sức căn bản và vững chắc. Câu nói trên quả có đúng ở một vài trường hợp, vậy quý vị cho biết thử đúng ở các trường hợp nào và không đúng ở các trường hợp nào?
Cũng phải cần lưu ý thêm, các chương sau sẽ bàn làm thế nào để các khu vực xấu bớt xấu, nghĩa là khí tốt sẽ được đưa đến cho một số khu vực bị xấu nhưng cần thiết phải sử dụng thì có thể câu nói trên lại đúng được hoàn toàn.
|